Thông báo

Tìm kiếm

  • CẢ NƯỚC HƯỚNG VỀ THÀNH PHỐ MANG TÊN BÁC

LỊCH SỬ QUỐC HỘI VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ

Đăng lúc: 15:05:57 04/03/2021 (GMT+7)

Ths Đào Thị Thủy, Phó Bí thư Chi bộ TCHC1
Nhằm thực hiện có hiệu quả văn bản hướng dẫn số 169-HD/BTGTW ngày 22/01/2021 của Ban Tuyên giáo Trung ương; Hướng dẫn số 10-HD/BTGTU, ngày 03/02/2021 của Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Thanh Hóa “về việc tuyên truyền cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026”; Thực hiện Nghị quyết của Đảng uỷ Trung tâm GDTX tỉnh “về việc tổ chức tuyên truyền sâu rộng đến toàn thể đảng viên, quần chúng nhân dân về ý nghĩa, tầm quan trọng của cuộc bầu cử”; đồng thời quán triệt đầy đủ, sâu sắc chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, của tỉnh về cuộc bầu cử, nhất là Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 20/6/2020 của Bộ Chính trị, Chỉ thị số 02/CT-TTg ngày 14/01/2021 của Thủ tướng Chính phủ, Chỉ thị số 01/CT-TƯ ngày 25/11/2020 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Thanh Hoá.. giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của cuộc bầu cử, lịch sử hình thành, những thành tựu của Quốc hội Việt Nam qua các thời kỳ; khẳng định sự kế thừa, phát huy tinh thần đổi mới của Quốc hội trong hoạt động lập pháp, giám sát và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước trong những năm gần đây.
Quốc hội Việt Nam được hình thành trong quá trình đấu tranh giành độc lập, giải phóng dân tộc. Trong cao trào đấu tranh chống lại ách đô hộ của thực dân Pháp và phát xít Nhật, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, ngày 16/8/1945, “Đại hội đại biểu Quốc dân” – Một đại hội mang tầm vóc của một Quốc hội lâm thời đã được triệu tập tại đình Tân Trào, thôn Tân Lập, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Đại hội đã tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa, thông qua 10 chính sách lớn của Mặt trận Việt Minh, cử ra Chính phủ lâm thời để lãnh đạo toàn dân giành chính quyền và tiến hành thắng lợi cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Chỉ mấy tháng sau đó, ngày 6/1/1946 cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên đã được tiến hành. Tất cả công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên không phân biệt nam, nữ, giàu nghèo, dân tộc, tôn giáo… đã tham gia cuộc Tổng tuyển cử, tự do lựa chọn người đại diện cho mình vào Quốc hội.
Tổng tuyển cử mở ra một thời kỳ mới, đánh dấu sự ra đời của Quốc hội Việt Nam, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Quốc hội khoá I đã họp phiên đầu tiên vào ngày 2/3/1946.
Từ khi ra đời đến nay, Quốc hội Việt Nam đã trải qua 14 nhiệm kỳ. Với vị trí là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, Quốc hội Việt Nam đã đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển chung của dân tộc Việt Nam.
Trong giai đoạn từ 1946 đến 1975, cùng với việc xây dựng chế độ dân chủ của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, Quốc hội đã cùng với Chính phủ đề ra các chủ trương chính sách, tổ chức và động viên toàn dân “kháng chiến, kiến quốc” giành thắng lợi trong hai cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước.
Sau khi đất nước thống nhất, Quốc hội đã cùng với cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, ra sức xây dựng đất nước, kiên cường bảo vệ Tổ quốc đồng thời làm nghĩa vụ quốc tế, vượt qua nhiều khó khăn để xây dựng, củng cố và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, Quốc hội không ngừng đổi mới tổ chức và hoạt động nhằm phát huy vai trò của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, từng bước hoàn thiện việc xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, tăng cường pháp chế và hiệu lực quản lý của bộ máy nhà nước.

CÁC KHOÁ CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM

KHOÁ QUỐC HỘI

GIAI ĐOẠN

SỐ ĐBQH(*)

Khoá I

1946-1960

403 đại biểu

Khoá II

1960-1964

453 đại biểu

Khoá III

1964-1971

453 đại biểu

Khoá IV

1971-1975

420 đại biểu

Khoá V

1975-1976

424 đại biểu

Khoá VI

1976-1981

492 đại biểu

Khoá VII

1981-1987

496 đại biểu

Khoá VIII

1987-1992

496 đại biểu

Khoá IX

1992-1997

395 đại biểu

Khoá X

1997-2002

450 đại biểu

Khoá XI

2002-2007

498 đại biểu

Khoá XII

2007-2011

493 đại biểu

Khoá XIII

2011-2016

500 đại biểu

Khoá XIV

2016-2021

494 đại biểu

(*) Tại thời điểm bắt đầu nhiệm kỳ

 

VỊ TRÍ CỦA QUỐC HỘI TRONG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC
Ở nước CHXHCN Việt Nam, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước.
Hiến pháp quy định Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam. Vị trí đặc biệt này xuất phát từ việc Quốc hội là cơ quan duy nhất do cử tri cả nước trực tiếp bầu ra.
 Quốc hội
Do cử tri cả nước bầu ra theo nguyên tắc phố thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.
Đại biểu Quốc hội chịu sự giám sát của cử tri; thực hiện chế độ tiếp xúc và báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Quốc hội.
  Chủ tịch nước
Là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước CHXHCN Việt Nam về đối nội và đối ngoại.
Do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội, chịu sự giám sát của Quốc hội, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội.
  Chính phủ
Là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội. Có nhiệm kỳ theo nhiệm kỳ của Quốc hội.
Thủ tướng Chính phủ do Quốc hội bầu trong số các đại biểu Quốc hội theo đề nghị của Chủ tịch nước.
Chịu sự giám sát của Quốc hội, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội.
  Toà án nhân dân
Là cơ quan xét xử của nước CHXHCN Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp.
Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao do Quốc hội bầu ra theo đề nghị của Chủ tịch nước, chịu sự giám sát của Quốc hội, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội.
  Viện kiểm sát nhân dân
Là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp.
Viện trưởng Viện kiểm sát Nhân dân tối cao do Quốc hội bầu ra theo đề nghị của Chủ tịch nước, chịu sự giám sát của Quốc hội, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội.
Kiểm toán nhà nước
Là cơ quan thực hiện kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công.
Tổng kiểm toán Nhà nước do Quốc hội bầu ra theo đề nghị của UBTVQH, chịu sự giám sát của Quốc hội, chịu trách nhiệm và báo cáo kết quả kiểm toán, báo cáo công tác trước Quốc hội.
  CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA QUỐC HỘI
Lập hiến, lập pháp
Làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp: Quốc hội quyết định làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp khi có ít nhất hai phần ba tổng số ĐBQH biểu quyết tán thành. Các chủ thể có quyền đề nghị Quốc hội xem xét, quyết định việc làm Hiến pháp hoặc sửa đổi Hiến pháp gồm: Chủ tịch nước; Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; Chính phủ; Ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội.
Sau khi quyết định làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp được thông qua, Quốc hội sẽ thành lập Uỷ ban dự thảo Hiến pháp. Thành phần, số lượng thành viên, nhiệm vụ và quyền hạn của Uỷ ban dự thảo Hiến pháp do Quốc hội quyết định theo đề nghị của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Uỷ ban dự thảo Hiến pháp tiến hành soạn thảo dự thảo Hiến pháp, tổ chức lấy ý kiến Nhân dân và trình Quốc hội dự thảo Hiến pháp.
Hiến pháp được Quốc hội thông qua khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. Dự thảo Hiến pháp có thể được Quốc hội quyết định trưng cầu ý dân khi có đề nghị của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội. Kết quả trưng cầu ý dân về Hiến pháp có giá trị quyết định để thông qua Hiến pháp.
Các bản Hiến pháp Việt Nam qua các thời kỳ
Hiến pháp 1946
Hiến pháp 1959
Hiến pháp 1980
Hiến pháp 1992
Hiến pháp 2013
Làm luật, sửa đổi luật: các chủ thể có quyền trình dự án luật trước Quốc hội, dự án pháp lệnh trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội gồm: Chủ tịch nước, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Chính phủ, Toà án Nhân dân tối cao, Viện kiểm sát Nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận, và đại biểu Quốc hội.
Dự án luật trước khi trình ra Quốc hội được Hội đồng Dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội thẩm tra, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến và được Quốc hội xem xét, thông qua tại một hoặc một số kỳ họp Quốc hội.
Dự án luật, nghị quyết của Quốc hội được Quốc hội thông qua khi có quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. Trường hợp làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp, quyết định rút ngắn hoặc kéo dài nhiệm kỳ của Quốc hội, bãi nhiệm đại biểu Quốc hội phải được ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội phải được quá nửa tổng số thành viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành.
  Tổng quan về quy trình xây dựng luật của Quốc hội: (05 quy trình)
01- Quyết định Chương trình xây dựng Luật
Quốc hội quyết định Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hằng năm.
Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh do Ủy ban Thường vụ Quốc hội lập và trình Quốc hội quyết định trên cơ sở đề nghị xây dựng luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền trình dự án luật và kiến nghị về luật.
02- Soạn thảo dự án luật
Dự án luật do Ban soạn thảo tiến hành soạn thảo.
Ban soạn thảo có thể được thành lập bởi Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bộ hoặc cơ quan ngang bộ, tòa án Nhân dân tối cao, Viện kiểm sát Nhân dân tối cao, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận.
Dự án luật được lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của dự án luật.
03- Thẩm tra dự án luật
Dự án luật trước khi trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội thảo luận, cho ý kiến phải được Hội đồng dân tộc, ủy ban của Quốc hội thẩm tra.
04- UBTVQH cho ý kiến về dự án luật
Tùy theo tính chất, nội dung của dự án luật, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có thể xem xét cho ý kiến một hoặc nhiều lần.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân trình dự án luật có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu ký kiến của Ủy ban Thường  vụ Quốc hội để chỉnh lý dự án, dự thảo.
05- QH xem xét, thông qua dự án luật
Quốc hội xem xét, thông qua dự thảo luật tại một hoặc nhiều kỳ họp.
06- Chủ tịch nước công bố luật
Chủ tịch nước ban hành lệnh để công bố luật, chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày luật được thông qua.
 Quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước
Quốc hội quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách, nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế - xã hội dài hạn và hằng năm của đất nước; chủ trương đầu tư chương trình mục tiêu quốc gia, dự án quan trọng quốc gia.
Quốc hội quyết định chính sách cơ bản về tài chính, tiền tệ quốc gia; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế; quyết định phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; quyết định mức giới hạn an toàn nợ quốc gia, nợ công, nợ chính phủ; quyết định dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước; quyết định chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, chính sách cơ bản về đối ngoại của nhà nước.
Quốc hội bầu, phê chuẩn, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh quan trọng trong bộ máy nhà nước; bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn; quyết định thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ của Chính phủ; thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; quyết định đại xá; quyết định vấn đề chiến tranh và hoà bình; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia; quyết định trưng cầu ý dân.
Trong lĩnh vực đối ngoại, Quốc hội quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn, quyết định gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực của điều ước quốc tế liên quan đến chiến tranh, hòa bình, chủ quyền quốc gia, tư cách thành viên của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại các tổ chức quốc tế và khu vực quan trọng, điều ước quốc tế về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và điều ước quốc tế khác trái với luật, nghị quyết của Quốc hội.
  Giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước
Hoạt động giám sát của Quốc hội bao gồm các hình thức: giám sát tối cao của Quốc hội, giáo sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, giám sát của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, giáo sát của các Đoàn đại biểu Quốc hội và giám sát của các đại biểu Quốc hội.
Hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội là việc Quốc hội xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý.
Hoạt động giám sát tối cao được thực hiện tại kỳ họp Quốc hội. Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân quy định 7 hình thức giám sát tối cao của Quốc hội, trong đó chất vấn và lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm là các hoạt động giám sát nổi bật.
Chất vấn là việc đại biểu Quốc hội nêu vấn đề thuộc trách nhiệm của người bị chất vấn và yêu cầu những người này trả lời về trách nhiệm của mình đối với vấn đề được nêu.
ĐBQH có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát Nhân dân tối cao, Tổng kiểm toán Nhà nước.
Tại mỗi kỳ họp, Quốc hội thường dành khoảng 3-4 ngày để tiến hành chất vấn. Các phiên chất vấn được phát thanh, truyền hình trực tiếp đến cử tri cả nước theo dõi.
Lấy phiếu tín nhiệm là việc Quốc hội thực hiện quyền giám sát, đánh giá mức độ tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn để làm cơ sở cho việc xem xét đánh giá cán bộ. Quốc hội tổ chức lấy phiếu tín nhiệm một lần trong mỗi nhiệm kỳ vào kỳ họp thường lệ cuối năm thứ ba của nhiệm kỳ.
Người được lấy phiếu tín nhiệm có quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội đánh giá “tín nhiệm thấp” thì có thể xin từ chức. Người được lấy phiếu tín nhiệm có từ hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội trở lên đánh giá “tín nhiệm thấp” thì Ủy ban thường vụ Quốc hội trình Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm.
Bỏ phiếu tín nhiệm là việc Quốc hội thể hiện sự tín nhiệm hoặc không tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn để làm cơ sở cho việc miễn nhiệm hoặc phê chuẩn đề nghị miễn nhiệm người không được Quốc hội tín nhiệm.
Người được bỏ phiếu tín nhiệm có quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội đánh giá “không tín nhiệm” thì có thể xin từ chức; trường hợp không từ chức thì cơ quan hoặc người có thẩm quyền giới thiệu người đó để Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn có trách nhiệm trình Quốc hội xem xét, quyết định việc miễn nhiệm hoặc phê chuẩn đề nghị miễn nhiệm đối với người đó.
Hoạt động giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: với vai trò là cơ quan thường trực của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; giám sát hoạt động của Chính phủ, Toà án Nhân dân tối cao, Viện kiểm sát Nhân dân tối cao và cơ quan khác do Quốc hội thành lập thông qua các hình thức:
Xem xét báo cáo công tác của Chính phủ, Toà án Nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước và các cơ quan khách do Quốc hội thành lập trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội;
Xem xét văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toàn án Nhân dân tối cao, Viện kiểm sát Nhân dân tối cao có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;
Xem xét việc trả lời chất vấn của người bị chất vấn trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội;
Xem xét báo cáo hoạt động của Hội đồng Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; xem xét nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;
Xem xét việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân;
Tổ chức đoàn giám sát.
Hoạt động giám sát của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội: Hội đồng Dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội giám sát việc thực hiện luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thuộc lĩnh vực mình phụ trách; giám sát hoạt động, giám sát văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Toà án Nhân dân tối cao, Viện kiểm sát Nhân dân tối cao thuộc lĩnh vực mình phụ trách. Hội đồng Dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội có quyền yêu cầu thành viên Chính phủ, Chánh án Toà án Nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát Nhân dân tối cao, Tổng kiểm toán Nhà nước và cá nhân hữu quan giải trình về những vấn đề thuộc lĩnh vực Hội đồng Dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội phụ trách.
Hoạt động giám sát của ĐBQH, đoàn ĐBQH: đại biểu Quốc hội giám sát thông qua hoạt động chất vấn; giám sát văn bản quy phạm pháp luật; giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân.
Đoàn ĐBQH các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thể tổ chức đoàn giám sát của Đoàn ĐBQH và tổ chức để các ĐBQH trong Đoàn giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng Nhân dân, Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân mà đại biểu Quốc hội, Đoàn ĐBQH đã chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân ở địa phương trả lời về những vấn đề mà Đoàn ĐBQH quan tâm.
Hoạt động đối ngoại
Thông qua nhiều hình thức khác nhau, hoạt động đối ngoại của Quốc hội góp phần tăng cường sự hiểu biết của bạn bè quốc tế về Việt Nam, đẩy mạnh quan hệ hợp tác liên nghị viện giữa Quốc hội Việt Nam và nghị viện các nước, thông quan đó thúc đẩy quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực giữa Việt Nam với các nước.
Phát huy lợi thế vừa “Nhà nước”, vừa “Nhân dân”, hoạt động đối ngoại của Quốc hội đã góp phần vào thành công chung trong việc thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước, duy trì môi trường hoà bình, ổn định cho công cuộc bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Hiện nay, Quốc hội Việt Nam đang là thành viên của nhiều tổ chức, diễn đàn liên nghị viện quốc tế như Liên minh nghị viện thế giới (IPU), Hội đồng Liên minh nghị viện Hiệp hội các nước Đông Nam Á (AIPA), Liên minh nghị viện Cộng đồng Pháp ngữ APF, Diễn đàn nghị sĩ Châu Á – Thái Bình Dương (APPF), Tổ chức nghị sĩ Châu Á – Thái Bình Dương (AAPP), Diễn đàn nghị sĩ Châu Á – Thái Bình Dương về môi trường và phát triển (APPCED), Tổ chức nghị sĩ ngành y quốc tế (IMRO)... Quốc hội Việt Nam còn là quan sát viên của một số tổ chức liên nghị viện khác.
  ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
ĐBQH là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình và của Nhân dân cả nước; là người thay mặt Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội.
Nhiệm kỳ của ĐBQH theo nhiệm kỳ của Quốc hội. ĐBQH bị Quốc hội hoặc cử tri bãi nhiệm khi không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của Nhân dân.
Số lượng ĐBQH trong mỗi khoá Quốc hội không quá năm trăm người, bao gồm đại biểu hoạt động chuyên trách và đại biểu hoạt động không chuyên trách. Số lượng ĐBQH hoạt động chuyên trách chiếm ít nhất là ba mươi lăm phần trăm tổng số ĐBQH. ĐBQH hoạt động chuyên trách dành toàn bộ thời gian làm việc để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu tại cơ quan của Quốc hội hoặc tại Đoàn đại biểu Quốc hội ở địa phương. ĐBQH hoạt động không chuyên trách phải dành ít nhất một phần ba thời gian làm việc trong năm để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội.
ĐBQH có trách nhiệm tham gia đầy đủ các kỳ họp, phiên họp toàn thể của Quốc hội; tham gia các hoạt động của Đoàn ĐBQH; thảo luận và biểu quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội.
ĐBQH là thành viên của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội có trách nhiệm tham dự các phiên họp, tham gia các hoạt động khác của Hội đồng, Ủy ban; thảo luận và biểu quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban mà mình là thành viên.
ĐBQH hoạt động chuyên trách có trách nhiệm tham gia hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách và các hội nghị khác do Ủy ban thường vụ Quốc hội triệu tập.
ĐBQH liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thường xuyên tiếp xúc với cử tri, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của cử tri; thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, kiến nghị của cử tri với Quốc hội, các cơ quan, tổ chức hữu quan.
ĐBQH tiếp xúc cử tri ở nơi ứng cử theo chương trình tiếp xúc cử tri của Đoàn đại biểu Quốc hội. ĐBQH tiếp xúc cử tri ở nơi cư trú, nơi làm việc; tiếp xúc cử tri theo chuyên đề, lĩnh vực, đối tượng, địa bàn mà đại biểu quan tâm.
ĐBQH có trách nhiệm tiếp công dân theo quy định của pháp luật. Khi nhận được khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân, ĐBQH có trách nhiệm nghiên cứu, kịp thời chuyển đến người có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị biết; đôn đốc, theo dõi và giám sát việc giải quyết.
ĐBQH có quyền trình dự án luật, pháp lệnh, kiến nghị về luật, pháp lệnh trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội.
ĐBQH có quyền kiến nghị Quốc hội làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp, trưng cầu ý dân, thành lập Ủy ban lâm thời của Quốc hội, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn, tổ chức phiên họp bất thường, phiên họp kín của Quốc hội và kiến nghị về những vấn đề khác mà đại biểu Quốc hội thấy cần thiết.
ĐBQH có quyền tham gia làm thành viên của Hội đồng dân tộc hoặc Ủy ban của Quốc hội. ĐBQH có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước.
ĐBQH được cấp hoạt động phí hằng tháng, kinh phí để thực hiện chế độ thuê khoán chuyên gia, thư ký giúp việc và các hoạt động khác để phục vụ cho hoạt động của đại biểu.
 CƠ CẤU TỔ CHỨC
Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Ủy ban Thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội. Ủy ban thường vụ Quốc hội gồm Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội và các Ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội do Chủ tịch Quốc hội làm Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Quốc hội làm Phó Chủ tịch. Thành viên Ủy ban thường vụ Quốc hội là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách và không đồng thời là thành viên Chính phủ.
Nhiệm kỳ của Ủy ban Thường vụ Quốc hội bắt đầu từ khi được Quốc hội bầu ra và kết thúc khi Quốc hội khóa mới bầu ra Ủy ban Thường vụ Quốc hội khoá mới.
Hiến pháp quy định Uỷ ban Thường vụ Quốc hội có 13 nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể, trong đó có các nhiệm vụ quyền hạn nổi bật như: tổ chức việc chuẩn bị, triệu tập và chủ trì kỳ họp Quốc hội; ra pháp lệnh về những vấn đề được Quốc hội giao; giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh; giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; giám sát hoạt động của Chính phủ, Tòa án Nhân dân tối cao, Viện kiểm sát Nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập; giám sát và hướng dẫn hoạt động của HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các ủy ban của Quốc hội; hướng dẫn và bảo đảm điều kiện hoạt động của đại biểu Quốc hội; tổ chức trưng cầu ý dân theo quyết định của Quốc hội.
Ủy ban thường vụ Quốc hội thảo luận và quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình tại phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội. Ủy ban Thường vụ Quốc hội họp thường kỳ mỗi tháng một phiên. Khi cần thiết, Ủy ban Thường vụ Quốc hội họp theo quyết định của Chủ tịch Quốc hội hoặc khi có đề nghị của Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ hay của ít nhất một phần ba tổng số thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chủ tịch Quốc hội chủ tọa phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội; các Phó Chủ tịch Quốc hội giúp Chủ tịch Quốc hội trong việc điều hành phiên họp theo sự phân công của Chủ tịch Quốc hội. Ủy ban Thường vụ Quốc hội họp công khai, trừ những trường hợp họp riêng do Chủ tịch Quốc hội quyết định.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV gồm có 18 thành viên, trong đó có 
Chủ tịch Quốc hội, 4 Phó Chủ tịch Quốc hội, và 13 Ủy viên  gồm Chủ tịch Hội đồng Dân tộc và 9 Chủ nhiệm của 9 Ủy ban của Quốc hội, Trưởng ban Dân nguyện, Trưởng ban Công tác đại biểu, và Tổng thư ký Quốc hội đồng thời là Chủ nhiệm 
Văn phòng Quốc hội.
Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội
Chủ tịch Quốc hội do Quốc hội bầu ra trong số các đại biểu Quốc hội. Theo quy định của Luật tổ chức Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội có những nhiệm vụ, quyền hạn nổi bật như: chủ tọa các phiên họp của Quốc hội; ký chứng thực Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; chỉ đạo việc chuẩn bị dự kiến chương trình, triệu tập và chủ tọa các phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; ký pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Chủ tọa hội nghị đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách và các hội nghị khác do Ủy ban thường vụ Quốc hội tổ chức; giữ quan hệ với các đại biểu Quốc hội; chỉ đạo và tổ chức việc thực hiện công tác đối ngoại của Quốc hội; thay mặt Quốc hội trong quan hệ đối ngoại của Quốc hội.
Các Phó Chủ tịch Quốc hội giúp Chủ tịch Quốc hội làm nhiệm vụ theo sự phân công của Chủ tịch Quốc hội.
Quốc hội khóa XIV có Chủ tịch Quốc hội và 04 Phó Chủ tịch Quốc hội, là nhiệm kỳ đầu tiên của Quốc hội nước ta có Chủ tịch Quốc hội là nữ giới.
Hội đồng Dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội
Hội đồng dân tộc gồm có Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Ủy viên thường trực, Ủy viên chuyên trách và các Ủy viên khác. Ủy ban của Quốc hội gồm có Chủ nhiệm, các Phó Chủ nhiệm, Ủy viên thường trực, Ủy viên chuyên trách và các Ủy viên khác.
Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội do Quốc hội bầu. Các Phó Chủ tịch, Ủy viên thường trực, Ủy viên chuyên trách và các Ủy viên khác của Hội đồng dân tộc; các Phó Chủ nhiệm, Ủy viên thường trực, Ủy viên chuyên trách và các Ủy viên khác của Ủy ban do Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn.
Thường trực Hội đồng dân tộc gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên thường trực. Thường trực Ủy ban của Quốc hội gồm Chủ nhiệm, các Phó Chủ nhiệm và các Ủy viên thường trực. Thường trực Hội đồng dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội giúp Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội giải quyết các công việc thường xuyên của Hội đồng, Ủy ban trong thời gian Hội đồng, Ủy ban không họp.
Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội thành lập các tiểu ban để nghiên cứu, chuẩn bị các vấn đề thuộc lĩnh vực hoạt động của Hội đồng, Ủy ban. Trưởng tiểu ban phải là thành viên của Hội đồng, Ủy ban, các thành viên khác có thể không phải là thành viên của Hội đồng, Ủy ban hoặc không phải là đại biểu Quốc hội.
Hội đồng Dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội có chức năng thẩm tra dự án luật, kiến nghị về luật, báo cáo và các dự án khác do Quốc hội hoặc Uỷ ban Thường vụ Quốc hội giao; thực hiện quyền giám sát trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn do luật định; kiến nghị về những vấn đề thuộc phạm vi hoạt động của mình.

HỘI ĐỒNG DÂN TỘC VÀ 9 UỶ BAN CỦA QUỐC HỘI KHOÁ XIV​

 

TÊN GỌI

LĨNH VỰC PHỤ TRÁCH

SỐ THÀNH VIÊN(*)

 

Hội đồng Dân tộc

Chính sách Dân tộc, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội miền núi và vùng dân tộc thiểu số

 

46 thành viên

 

UB Pháp luật

Pháp luật về dân sự, hành chính, tổ chức bộ máy nhà nước (trừ tổ chức bộ máy của cơ quan tư pháp)

 

41 thành viên

UB Tư pháp

Pháp luật hình sự, tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án, bổ trợ tư pháp, phòng chống tham nhũng, tổ chức bộ máy của cơ quan tư pháp

 

39 thành viên

UB Kinh tế

Kinh tế, đất đai, tiền tệ, ngân hàng, hoạt động kinh doanh

42 thành viên

UB Tài chính, Ngân sách

Tài chính, ngân sách, kiểm toán nhà nước

43 thành viên

UB Quốc phòng và An ninh

Quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội

41 thành viên

UB VH, GD thanh niên,  TN&NĐ

Văn hoá, giáo dục, thông tin, truyền thông, tín ngưỡng, tôn giáo, du lịch, thể thao, thanh niên, thiếu niên, nhi đồng

 

44 thành viên

UB về các vấn đề xã hội

Lao động, việc làm, y tế, dân số, an sinh xã hội, bình đẳng giới, thi đua, khen thưởng, phòng, chống tệ nạn xã hộ

 

50 thành viên

UB KH, CN & MT

Khoa học, công nghệ, tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai

 

37 thành viên

 

Uỷ ban Đối ngoại

Đối ngoại, tổ chức thực hiện quan hệ đối ngoại với Quốc hội các nước, các tổ chức liên nghị viện thế giới và khu vực

 

31 thành viên

(*) Số liệu cập nhật từ trang www.quochoi.vn

 Cơ quan giúp việc
Tổng Thư ký Quốc hội
Tổng Thư ký Quốc hội do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của UBTVQH.
Tổng thư ký Quốc hội có trách nhiệm tham mưu, phục vụ hoạt động của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, đại biểu Quốc hội và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn:  (i) Tham mưu cho Chủ tịch Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội về dự kiến chương trình làm việc của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội; về quy trình, thủ tục thực hiện hoạt động của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội; (ii) Phối hợp với Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội và các cơ quan, tổ chức hữu quan xây dựng dự thảo nghị quyết về các nội dung do Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội giao; (iii) Là người phát ngôn của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội; tổ chức công tác cung cấp thông tin, báo chí, xuất bản, thư viện, bảo tàng, ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội; (iv) Tổ chức các nghiệp vụ thư ký tại kỳ họp Quốc hội, phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội; tập hợp, tổng hợp các ý kiến của đại biểu Quốc hội; ký biên bản kỳ họp, biên bản phiên họp; và (v) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác do Chủ tịch Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội giao.
Giúp việc TTKQH có Ban thư ký gồm hai Phó TTKQH và các Ủy viên.
Văn phòng Quốc hội
VPQH là cơ quan hành chính, tham mưu tổng hợp, phục vụ Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội và ĐBQH.
VPQH có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: (i) Tổ chức phục vụ các kỳ họp Quốc hội, phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội và các hoạt động khác của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội; (ii) Quản lý cán bộ, công chức, viên chức, người lao động khác phục vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội; (iii) Quản lý kinh phí hoạt động của Quốc hội; (iv) Chịu trách nhiệm bảo đảm cơ sở vật chất và các điều kiện khác cho hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội; tạo điều kiện cho đại biểu Quốc hội trong việc trình dự án luật, pháp lệnh, kiến nghị về luật, pháp lệnh.
Tổng Thư ký Quốc hội đồng thời là Chủ nhiệm VPQH, chịu trách nhiệm trước Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội về hoạt động của VPQH.
Các Phó Chủ nhiệm VPQH do Ủy ban thường vụ Quốc hội bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Tổng thư ký Quốc hội - Chủ nhiệm VPQH.
Cơ cấu tổ chức và biên chế của VPQH do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quyết định.
Các cơ quan thuộc UBTVQH
UBTVQH thành lập các cơ quan thuộc UBTVQH để tham mưu, giúp UBTVQH về các lĩnh vực công việc cụ thể. UBTVQH quy định cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ, chính sách áp dụng đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động khác làm việc tại các cơ quan này. UBTVQH khoá XIV có 3 cơ quan trực thuộc gồm Ban Dân nguyện, Ban Công tác đại biểu và Viện Nghiên cứu lập pháp.
+ Ban Dân nguyện
Ban Dân nguyện là cơ quan có chức năng tham mưu, giúp UBTVQH về công tác dân nguyện.
Ban dân nguyện có Trưởng Ban, các Phó Trưởng Ban do UBTVQH bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức. Trưởng Ban dân nguyện là người chịu trách nhiệm trước UBTVQH về tổ chức và hoạt động của Ban dân nguyện.
Ban Dân nguyện có Vụ Dân nguyện là vụ giúp việc. Tổ chức và nhiệm vụ của Vụ Dân nguyện do Trưởng Ban dân nguyện phối hợp với Chủ nhiệm VPQH quy định.
+ Ban Công tác đại biểu
Ban Công tác đại biểu là cơ quan giúp UBTVQH về công tác đại biểu, tổ chức bộ máy và nhân sự  thuộc thẩm quyền của UBTVQH.
Ban Công tác đại biểu gồm có Trưởng ban, các Phó Trưởng ban do UBTVQH bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức.
Ban Công tác đại biểu làm việc theo chế độ thủ trưởng. Trưởng ban Công tác đại biểu chịu trách  nhiệm trước UBTVQH và Chủ tịch Quốc hội.  Các Phó Trưởng ban giúp Trưởng ban thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của Trưởng ban. Khi Trưởng ban vắng mặt, một Phó Trưởng ban được Trưởng ban uỷ quyền thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng ban.
+ Viện Nghiên cứu lập pháp
Viện Nghiên cứu lập pháp là cơ quan có chức năng nghiên cứu khoa học lập pháp, tổ chức thông tin khoa học lập pháp để tham mưu chính sách, tư vấn, hỗ trợ, phục vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các cơ quan thuộc UBTVQH và ĐBQH trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội; giúp UBTVQH quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học trong các cơ quan của Quốc hội, các cơ quan thuộc UBTVQH và VPQH.
Viện Nghiên cứu lập pháp có Viện trưởng, Phó Viện trưởng và công chức, viên chức, người lao động. Biên chế công chức, tổng số viên chức và người lao động làm việc tại Viện nghiên cứu lập pháp do UBTVQH quyết định.
Viện trưởng, Phó Viện trưởng do UBTVQH bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức. Viện trưởng chịu trách nhiệm trước UBTVQH về tổ chức và hoạt động của Viện.
 
PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG VÀ CHẾ ĐỘ LÀM VIỆC
Phương thức hoạt động
Hiệu quả hoạt động của Quốc hội được thể hiện qua hiệu quả hoạt động của các kỳ họp Quốc hội, hoạt động của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và các đại biểu Quốc hội.
Chế độ làm việc
Quốc hội làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số. Các quyết định của Quốc hội phải được quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. Trong các trường hợp: rút ngắn hoặc kéo dài nhiệm kỳ Quốc hội, làm hiến pháp, sửa đổi hiến pháp, thông qua hiến pháp, bãi nhiệm đại biểu Quốc hội, thì phải được ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán hành.
Quốc hội xây dựng chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, chương trình giám sát hằng năm để làm cơ sở cho việc tiến hành các hoạt động lập pháp và giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và các đại biểu Quốc hội.
Quốc hội làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số.
 
KỲ HỌP QUỐC HỘI
Quốc hội tiến hành các công việc thuộc chức năng nhiệm vụ của mình tại các kỳ họp Quốc hội. Quốc hội họp thường lệ mỗi năm 2 kỳ: kỳ họp giữa năm, thường bắt đầu từ ngày 20/5 và kỳ họp cuối năm, thường bắt đầu từ ngày 20/10. Trường hợp Chủ tịch nước, UBTVQH, Thủ tướng Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số ĐBQH yêu cầu thì Quốc hội họp bất thường.
Mỗi kỳ họp Quốc hội thường diễn ra trong khoảng 1 tháng. UBTVQH chuẩn bị, triệu tập và chủ trì kỳ họp Quốc hội.
Quốc hội họp công khai, trừ trường hợp theo đề nghị của Chủ tịch nước, UBTVQH, Thủ tướng Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số ĐBQH, Quốc hội quyết định họp kín.
Công dân có thể được vào dự thính tại các phiên họp công khai của Quốc hội. Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, cử tri cả nước có thể theo dõi các hoạt động của Quốc hội tại kỳ họp, đặc biệt là theo dõi các phiên họp chất vấn và trả lời chất vấn được phát thanh và truyền hình trực tiếp.
Tại các kỳ họp, Quốc hội thảo luận, quyết định các vấn đề tại phiên họp toàn thể. Ngoài ra, các nội dung thuộc chương trình kỳ họp có thể được thảo luận tại các phiên họp do UBTVQH tổ chức, các phiên họp do Hội đồng Dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội tổ chức và các phiên họp Đoàn ĐBQH, tổ ĐBQH.
 
BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
Bầu cử đại biểu Quốc hội được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Tổng số đại biểu trong mỗi khóa Quốc hội được pháp luật quy định không quá 500 người, số lượng đại biểu Quốc hội các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tương ứng với số dân và đặc điểm của mỗi địa phương.
Tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội:
1- Trung thành với Tổ quốc, Nhân dân và Hiến pháp, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
2- Có phẩm chất đạo đức tốt, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; có bản lĩnh, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền và các hành vi vi phạm pháp luật khác.
3- Có trình độ văn hóa, chuyên môn, có đủ năng lực, sức khỏe, kinh nghiệm công tác và uy tín để thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội.
4- Liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến của Nhân dân, được Nhân dân tín nhiệm.
5- Có điều kiện tham gia các hoạt động của Quốc hội.
Công dân Việt Nam không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, từ đủ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên đều có quyền ứng cử đại biểu Quốc hội theo quy định của pháp luật.
Hội đồng bầu cử quốc gia là cơ quan tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội; chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. Hội đồng bầu cử quốc gia do Quốc hội thành lập, có từ mười lăm đến hai mươi mốt thành viên gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên là đại diện Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và một số cơ quan, tổ chức hữu quan.
 
MỘT SỐ THÔNG TIN VỀ BẦU CỬ
- Ngày bầu cử phải là ngày Chủ nhật. Việc bỏ phiếu được tiến hành bắt đầu từ bảy giờ sáng đến bảy giờ tối cùng ngày.
- Cử tri đi bầu tại nơi thường trú hoặc tạm trú theo danh sách cử tri do UBND xã, phường, thị trấn lập theo khu vực bỏ phiếu.
- Mỗi cử tri được quyền bỏ một phiếu bầu và có quyền đổi phiếu bầu khác nếu viết hỏng.
- Trong quá trình viết phiếu bầu, cử tri được quyền bảo đảm bí mật phiếu bầu của mình, không ai được xem, kể cả thành viên Tổ bầu cử.
- Cử tri phải tự mình đi bầu cử, không được nhờ người khác bầu cử thay, trừ trương hợp cử tri không thể tự viết được phiếu bầu thì nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình bỏ phiếu; nếu vì khuyết tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu.
- Trong trường hợp cử tri ốm đau, già yếu, khuyết tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến chỗ ở, chỗ điều trị của cử tri để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện việc bầu cử.
 
QUỐC HỘI VỚI CÔNG CHÚNG
Nhà Quốc hội
Nhà Quốc hội nằm trên đường Độc Lập, đối diện với Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và nằm cạnh Khu di tích khảo cổ Hoàng thành Thăng Long. Toà nhà được thiết kế theo kiến trúc kết hợp giữa hình vuông, hình tròn dựa trên ý tưởng biểu đạt sự phối hợp hài hoà và rộng mở giữa Trời và Đất theo truyền thuyết “Bánh Chưng – Bánh Dày” của dân tộc Việt Nam. Toà nhà có kích thước 102x102 mét, cao 39 mét gồm 5 tầng nổi và 2 tầng hầm, với tổng cộng 520 phòng bao gồm 100 phòng họp, 170 phòng làm việc, 90 phòng kỹ thuật và 160 phòng phục vụ.
Phòng Diên Hồng
Là nơi diễn ra phiên họp toàn thể của Quốc hội. Phòng được đặt tên Diên Hồng để gợi nhớ đến Hội nghị Diên Hồng, do vua tôi nhà Trần tổ chức vào cuối tháng Chạp năm 1284. Khi đó, Thái Thượng hoàng Trần Thánh Tông đã triệu tập các bô lão trong cả nước để hỏi ý kiến về chủ trương nên hòa hay nên đánh khi quân Nguyên Mông sang xâm lược Việt Nam lần thứ hai. Đây có thể xem là hội nghị dân chủ đầu tiên của Việt Nam, mà ở đó các bô lão chính là những người đại biểu Nhân dân.
Phòng được cấu trúc thành 2 tầng. Tầng 1 dành cho các vị đại biểu Quốc hội, với 575 chỗ ngồi; Tầng 2 là nơi dành cho khách vào dự thính, tham quan, với tổng cộng 339 chỗ ngồi. Tại các kỳ họp, đại diện cơ quan nhà nước, cơ quan trung ương của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang Nhân dân, cơ quan báo chí có thể được mời dự các phiên họp công khai của Quốc hội. Công dân có thể được dự thính các phiên họp công khai của Quốc hội.
Phòng Tân Trào
Là nơi diễn ra các phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH). UBTVQH là cơ quan thường trực của Quốc hội, thực hiện những nhiệm vụ và quyền hạn quan trọng trong thời gian Quốc hội không họp. UBTVQH họp thường lệ mỗi tháng một lần. Các phiên họp của UBTVQH được tiến hành công khai, trừ trường hợp đặc biệt.
Phòng họp được đặt tên Tân Trào để gợi nhớ đến Đại hội đại biểu Quốc dân được tổ chức tại đình Tân Trào, thuộc huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang vào ngày 16/8/1945, với sự tham dự của hơn 60 đại biểu đại diện cho cả 3 miền Bắc - Trung - Nam và một số kiều bào ở nước ngoài. Đại hội đã thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh,  thành lập Uỷ ban dân tộc giải phóng Việt Nam (tức Chính phủ cách mạng lâm thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch để lãnh đạo toàn quốc Tổng khởi nghĩa và tiến hành thắng lợi Cách mạng tháng Tám. Có thể xem “Đại hội đại biểu Quốc dân” là tiền thân của Quốc hội Việt Nam ngày nay.
Phòng Tân Trào được bố trí tại tầng 2 của Nhà Quốc hội, với diện tích khoảng 500m2. Trong phòng có lắp đặt hệ thống truyền hình cỡ lớn để thu phát và hiển thị thông tin cuộc họp cũng như phục vụ truyền hình trực tuyến.
Ghế ngồi trong phòng họp được bố trí hình ô van. Khu vực Đoàn Chủ tịch gồm 5 ghế bố trí tại phía Bắc của phòng; ghế cao nhất ở chính giữa dành cho Chủ tịch Quốc hội, đồng thời là Chủ tịch UBTVQH, 4 ghế ở vị trí hai bên dành cho 4 vị Phó Chủ tịch Quốc hội, đồng thời là Phó Chủ tịch UBTVQH. Ở hai cánh cung bố trí ghế dành cho các ủy viên của UBTVQH. Phía đối diện với Đoàn  Chủ tịch là khu vực dành cho khách mời gồm thành viên Chính phủ, đại diện các bộ, ngành và cơ quan, tổ chức kinh tế - xã hội khác.
Trung tâm báo chí
Là nơi tác nghiệp của các phóng viên báo chí đưa tin về hoạt động của Quốc hội và là nơi tổ chức các cuộc họp báo của Lãnh đạo Quốc hội và Tổng thư ký Quốc hội. Thông thường trước và sau mỗi kỳ họp Quốc hội, Tổng thư ký Quốc hội tổ chức họp báo để công bố dự kiến chương trình kỳ họp Quốc hội; công bố kết quả kỳ họp Quốc hội. Tại các cuộc họp báo này, phóng viên trong nước và quốc tế có thể nêu câu hỏi và trao đổi ý kiến với Tổng thư ký Quốc hội về các nội dung liên quan đến kỳ họp Quốc hội.
Trung tâm báo chí được đặt tại tầng B1 của Nhà Quốc hội, có diện tích khoảng 300m2, đáp ứng được cho khoảng 200 phóng viên tác nghiệp. Tiếp giáp với Phòng họp báo có các khu vực phụ trợ, được bố trí với các trang thiết bị phục vụ cho hoạt động báo chí. Tín hiệu âm thanh, hình ảnh từ Phòng họp Diên Hồng, Phòng họp Tân Trào được truyền trực tiếp đến Trung tâm báo chí để các phóng viên có thể theo dõi, đưa tin.
Thư viện Quốc hội
Thư viện Quốc hội là nơi cung cấp thông tin, tài liệu và dịch vụ nghiên cứu phục vụ Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc và các uỷ ban của Quốc hội; các đại biểu Quốc hội và nhân viên của Văn phòng Quốc hội.
Tổng diện tích Thư viện Quốc hội là khoảng 600 m2 với Phòng đọc chính có diện tích hơn 500m2. Đây là nơi lưu trữ toàn bộ tài liệu nội sinh của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và Văn phòng Quốc hội; cung cấp dịch vụ tra cứu các tài liệu tham khảo về chính trị, xã hội và pháp luật với hơn 20 ngàn đầu mục sách, tài liệu với hơn 50 ngàn bản in; 108 đầu mục báo và tạp chí.
Cổng thông tin điện tử Quốc hội
Cổng thông tin điện tử của Quốc hội là công cụ cập nhật thông tin, hình ảnh về tổ chức và hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội.
Ứng dụng truyền hình Quốc hội trực tuyến trên Cổng thông tin điện tử cho phép người sử dụng theo dõi trực tiếp hoặc xem lại các phiên họp của Quốc hội tại các kỳ họp, các phiên họp của Ủy ban thường vụ Quốc hội, các phiên làm việc của các cơ quan Quốc hội.
Hệ thống các ứng dụng khác cũng được tích hợp trên Cổng thông tin, trong đó có trang Dự thảo online để lấy ý kiến công chúng về các dự thảo luật, trang ý kiến cử tri hoạt động dưới hình thức diễn đàn trao đổi ý kiến kết nối cử tri với đại biểu Quốc hội, Cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật.
Truyền hình Quốc hội Việt Nam
Truyền hình Quốc hội Việt Nam là một kênh tin tức chuyên biệt về Quốc hội, góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch trong hoạt động của Quốc hội và đáp ứng nhu cầu tiếp nhận thông tin của cử tri và Nhân dân về các hoạt động của Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội. Đây cũng là diễn đàn trao đổi của cử tri với Quốc hội, góp phần tạo nên hình ảnh về Quốc hội Việt Nam đổi mới và phát triển trong thời kỳ hội nhập.
Báo Đại biểu Nhân dân
Báo Đại biểu Nhân dân là diễn đàn của đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân và cử tri. Báo được xuất bản hằng ngày dưới hai hình thức hình thức báo giấy và báo điện tử.
Báo Đại biểu Nhân dân có nhiệm vụ thông tin về các hoạt động của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, cơ quan của Ủy ban thường vụ Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội liên quan đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan dân cử; phản ánh ý kiến, kiến nghị của cử tri và những sáng kiến, đề xuất của đại biểu dân cử về tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân dân.
Các Chương trình thông tin công chúng của Quốc hội
Chương trình tham quan Nhà Quốc hội, dự thính các phiên họp toàn thể của Quốc hội: được triển khai từ năm 2000 (diễn ra tại Hội trường Ba Đình). Sau khi Nhà Quốc hội mới được đưa vào sử dụng, từ năm 2015 đến nay hoạt động này được tổ chức thường xuyên.
Hoạt động giáo dục cho thế hệ trẻ về Quốc hội: được tổ chức theo các hình thức như  chương trình “Quốc hội trẻ” (triển khai từ năm 2005), chương trình “Giáo dục trải nghiệm về Quốc hội” (triển khai từ năm 2017). Tham dự các chương trình này, sinh viên, học sinh được trang bị kiến thức về Quốc hội; tìm hiểu, làm quen và được hướng dẫn thực hành các công việc của Quốc hội, tiến hành phiên họp mô phỏng phiên họp toàn thể của Quốc hội Việt Nam. Chương trình “Quốc hội trẻ” cũng tạo cơ hội để thế hệ trẻ được nói lên tiếng nói của mình, được lắng nghe và trao đổi ý kiến trực tiếp với các đại biểu Quốc hội.
 
CHỦ TỊCH QUỐC HỘI QUA CÁC THỜI KỲ
 
NGUYỄN VĂN TỐ
Năm sinh: 1889  - Năm mất: 1947
Quê quán: Hoàn Kiếm - Hà Nội
Trưởng ban Thường trực Quốc hội khóa I (từ 2/3/1946 đến 8/11/1946)
 
BÙI BẰNG ĐOÀN
Năm sinh: 1889 - Năm mất: 1955
Quê quán: Ứng Hòa - Hà Nội
Trưởng ban Thường trực Quốc hội khóa I (từ 9/11/1946 đến 13/4/1955)
 
TÔN ĐỨC THẮNG
Năm sinh: 1888 - Năm mất: 1980
Quê quán: Long Xuyên - An Giang
Trưởng ban Thường trực Quốc hội khóa I (từ 20/9/1955 đến 14/7/1960)
 
TRƯỜNG CHINH
Năm sinh: 1907 - Năm mất: 1988
Quê quán: Xuân Trường - Nam Định
Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khóa II, III, IV, V, VI (từ 15/7/1960 đến 3/7/1981)
 
NGUYỄN HỮU THỌ
Năm sinh: 1910 - Năm mất: 1996
Quê quán: Bến Lức - Long An
Chủ tịch Quốc hội khóa VII (từ 4/7/1981 đến 18/6/1987)
 
LÊ QUANG ĐẠO
Năm sinh: 1921 - Năm mất: 1999
Quê quán: Từ Sơn - Bắc Ninh
Chủ tịch Quốc hội khóa VIII (từ 18/6/1987 đến 23/9/1992)
 
NÔNG ĐỨC MẠNH
Năm sinh: 1940
Quê quán: Na Rì - Bắc Kạn
Chủ tịch Quốc hội khóa IX, X (từ 23/9/1992 đến 27/6/2001)
 
NGUYỄN VĂN AN
Năm sinh: 1937
Quê quán: Mỹ Lộc - Nam Định
Chủ tịch Quốc hội khóa X, XI (từ 27/6/2001 đến 26/6/2006)
 
NGUYỄN PHÚ TRỌNG
Năm sinh: 1944
Quê quán: Đông Anh - Hà Nội
Chủ tịch Quốc hội khóa XI, XII (từ 26/6/2006 đến 23/7/2011)
 
NGUYỄN SINH HÙNG
Năm sinh: 1946
Quê quán: Nam Đàn - Nghệ An
Chủ tịch Quốc hội khóa XIII (từ 23/7/2011 đến 31/3/2016)
 
NGUYỄN THỊ KIM NGÂN
Năm sinh: 1954
Quê quán: Giồng Trôm - Bến Tre
Chủ tịch Quốc hội khóa XIII, XIV (từ 31/3/2016)
 
Nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới, mỗi cán bộ, đảng viên phải nắm vững ý nghĩa, tầm quan trọng của cuộc bầu cử; quán triệt đầy đủ, sâu sắc chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, của tỉnh về cuộc bầu cử, lịch sử hình thành và những thành tựu của Quốc hội và HĐND các cấp qua các thời kỳ; khẳng định sự kế thừa, phát huy tinh thần đổi mới của Quốc hội trong hoạt động lập pháp, giám sát và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước trong những năm gần đây. Phát động phong trào thi đua yêu nước lập thành tích chào mừng cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2026 thực sự hiệu quả, chất lượng.
 
Hôm nay:
507
Hôm qua:
1840
Tuần này:
4801
Tháng này:
55033
Tất cả:
2673726