Một số biện pháp giúp giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường Trung học cơ sở tạo hứng thú học tập cho học sinh

Đăng lúc: 21/10/2019 (GMT+7)

NCS. Nguyễn Trung Thanh
Trung tâm GDTX tỉnh Thanh Hóa
       Hứng thú là một thuộc tính tâm lí - nhân cách quan trọng của con người. Hứng thú có vai trò quan trọng trong học tập (HT) và làm việc, không có việc gì người ta không làm được dưới ảnh hưởng của hứng thú. Học sinh (HS) có hứng thú HT cũng chính là giúp cho các thầy cô giáo có cảm hứng, say mê trong mỗi giờ lên lớp. Khổng Tử từng nói “Biết mà học, không bằng thích mà học, thích mà học không bằng vui mà học”, người học chỉ tự giác, tích cực HT khi họ thấy hứng thú. Hứng thú không có tính tự thân, không phải là thiên bẩm. Hứng thú không tự nhiên nảy sinh và khi đã nảy sinh nếu không duy trì,nuôi dưỡng cũng có thể bị mất đi. Hứng thú được hình thành, duy trì và phát triển nhờ môi trường giáo dục (GD) với vai trò dẫn dắt, hướng dẫn, tổ chức của GV. Trong khi đó, thực tế hiện nay đã cho thấy một bộ phận HS ở trường THCS không có hứng thú với HT, động cơ HT bị lệch lạc do bị ảnh hưởng một số yếu tố như: 1) Từ chính bản thân HS; 2) yếu tố nhà trường; 3) Yếu tố gia đình; 4) yếu tố xã hội: ... Xuất phát từ những cơ sở đó, với vị trí, vai trò và tầm quan trọng trong nhà trường phổ thông, GVCN ngoài việc phụ trách một môn học nhất định và thực hiện các nhiệm vụ thông thường khác của một GV môn học, GVCN còn phải đảm nhận rất nhiều vai trò đa dạng và phức tạp khác, là người dạy dỗ, người tham vấn, nhà trị liệu tâm lí, người cố vấn HT, người bạn tin cậy, người điều phối các lực lượng giáo dục và tạo hứng thú HT cho HS. 
       Do khuôn khổ của bài viết, chúng tôi không đi sâu vào phân tích cơ sở lí luận và thực tiễn về việc GVCN tạo hướng thú HT cho HS như thế nào. Ở đây tôi chỉ đề xuất một số biện pháp giúp GVCN lớp ở trường THCS với việc tạo hứng thú HT cho HS, qua đó nâng cao được chất lượng GD.
Biện pháp 1: GVCN giúp HS xác định được động cơ, thái độ học tập đúng đắn 
       Giúp HS xác định được động cơ HT đúng đắn là việc làm đầu tiên của người GVCN. Bởi vì, thành công không bao giờ là kết quả của một quá trình ngẫu hứng tùy tiện thiếu tính toán, kể cả trong HT lẫn nghiên cứu. Có động cơ HT tốt khiến cho người ta luôn tự giác say mê HT với những mục tiêu cụ thể rõ ràng với một niềm vui sáng tạo bất tận. Người GVCN phải hướng dẫn cho HS xác định lại việc học của mình như: Học để làm gì (mục đích); Học vì cái gì (Động cơ học tập); Tại sao phải học? (nhu cầu) và Học như thế nào? (thái độ). Bốn câu hỏi này có sự liên quan chặt chẽ với nhau. Và trả lời được bốn câu hỏi này chúng ta sẽ có một bức tranh về xây dựng, hình thành, động cơ HT đúng đắn cho mỗi HS.
Biện pháp 2: GVCN cần phải tạo ra sự bình đẳng và cơ hội HT cho mọi HS lớp chủ nhiệm
       Do NL, nhu cầu, hoàn cảnh, điều kiện,... của mỗi HS là không giống nhau, mỗi em đều mong muốn có những nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức DH phù hợp nhất với bản thân mình để có thể phát huy được điểm mạnh và hạn chế điểm yếu của bản thân, từ đó nâng cao chất lượng HT. Mỗi GVCN cần căn cứ vào sự khác biệt của từng cá nhân để tạo sự bình bằng và cơ hội HT cho mọi đối tượng người học. Giúp người học không có cơ hội này thì có cơ hội khác bù vào nhờ tính năng động và bình đẳng về cơ hội HT. Chẳng hạn: (1) HS được tạo cơ hội học theo NL của mình. Các HS có NL tiếp thu, khả năng vận dụng nhanh hơn có thể được HT với một nhịp độ nhanh hơn; các HS học chậm hơn được tạo cơ hội để tiến bộ với sự nỗ lực cao nhất của mình.; (2) HS được tạo cơ hội tiếp nhận tri thức theo trình độ của mình. Trình độ của HS không phải là bất biến mà thay đổi trong quá trình HT, nói chung là có chiều hướng tăng lên nếu có sự quan tâm giúp đỡ của GV. Dó đó, HS học giỏi phải được học ngang tầm với khả năng của các em để có thể phát triển nhiều nhất tiềm năng của mình. Xóa bỏ mặc cảm, khoảng cách giữa HS yếu với HS khá giỏi, đưa các em xích lại gần nhâu hơn. Tạo điều kiện để HS yếu kém cũng có cơ hội được học theo cách của mình, được giao nhiệm vụ vừa sức, được học hỏi hợp tác với những em HS khá giỏi. Điều này sẽ làm cho hoạt động HT của các em trở nên tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo hơn, từ đó tạo được niềm vui, hứng thú và lòng say mê HT cho tất cả các đối tượng; (3) HS được tạo cơ hội phát huy các trí thông minh nổi trội của mình: HS có trí thông minh ngôn ngữ được phát huy thế mạnh về ngôn ngữ (nghe, nói, đọc, viết, ghi chép, thuyết trình, diễn giải,....); HS có trí thông minh logic/toán được phát huy NL tính toán, tư duy logic, lập luận và suy luận chứng minh, khoa học máy tính; HS nổi trội về trí thông minh không gian có cơ hội phát huy thiên hướng HT thông qua hình ảnh, sơ đồ, màu sắc, đồ vật, suy luận trong không gian “ba chiều”; HS có trí thông minh vận động cơ thể được phát huy thế mạnh về thể thao; HS có trí thông minh âm nhạc có cơ hội thể hiện ca hát, sáng tác, chơi các dụng cụ nhạc,..; Đối với HS có trí thông minh giao tiếp tạo cơ hội cho HS được thảo luận, hợp tác, tham gia các hoạt động tập thể; HS nổi trội về trí tuệ cá nhân  được tạo cơ hội để phát triển tư duy độc lập, giải quyết vấn đề một cách độc lập, không bị gò bó, áp đặt, phụ thuộc vào tư duy của người khác kể cả thầy giáo;... (3) HS được tạo cơ hội để thể hiện những hiểu biết của mình và cảm nhận của mình dưới nhiều hình thức khác nhau mà không bị cản trở. Bằng cách đó, các em sẽ tự tin hơn vào bản thân của mình và có thể phát triển các khả năng đa dạng sẵn có cũng như hình thành và phát triển những khả năng mới. (4) HS được khuyến khích phát huy lòng tự trọng với bản thân và sự tôn trọng đối với người khác. HS hiểu biết hơn về NL và nhu cầu của bản thân, biết đánh giá đúng NL của mình đồng thời hiểu biết và tôn trọng những khác biệt của những người khác.
Biện pháp 3: Tổ chức hoạt động HT cho HS lớp chủ nhiệm
       HT là hoạt động quan trọng nhất của HS nói chung, HS THCS nói riêng, GVCN có trách nhiệm giúp HS lớp chủ nhiệm tích cực tham gia hoạt động HT trong các giờ học trên lớp. Trong tổ chức hoạt động HT cho HS, công việc trước tiên GVCN cần phải làm là rèn luyện cho HS thói quen đi học đúng giờ, làm bài tập đầy đủ trước khi đến lớp; GVCN sinh hoạt 15 phút cùng HS, tổ chức cho HS truy bài trước khi vào giờ học chính;... Bên cạnh đó GVCN có thể sử dụng các biện pháp rèn luyện cho HS thói quen tích cực tham gia các hoạt động HT như: Tổ chức thi đua giữa các cá nhân, giữa các tổ; hăng say tham gia xây dựng bài; tổ chức cho HS trao đổi, giúp đỡ nhau về phương pháp HT (cách đọc sách, ghi chép, sử dụng tài liệu, làm bài tập,....); nêu gương những HS có thành tích HT tốt; tổ chức cho HS học hợp tác theo nhóm,... 
Biện pháp 4: Tổ chức các hoạt động giáo dục toàn diện cho HS lớp chủ nhiệm
       Với vị trí, vai trò, quản lý toàn diện HS một lớp học, GVCN có trách nhiệm tổ chức các nội dung GD toàn diện cho HS lớp chủ nhiệm như: GD đạo đức; pháp luật; GD lao động và hướng nghiệp; GD thể chất và thẩm mỹ;.... (1) Đối với giáo dục thể chất và thẩm mỹ, GVCN cần tổ chức và cố vấn cho ban cán bộ lớp tổ chức các hoạt động trải nghiệm như: Thi đấu thể thao, văn nghệ, thăm quan, du lịch, cắm trại, xem phim, hội thi (rung chuông vàng, thanh lịch, thi hiểu biết về văn hóa xã hội, nghệ thuật,...). Thông qua các hoạt động này, giúp HS biết cách vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế; giúp HS “sảng khoái tinh thần, mở mang trí tuệ, phát triển thể chất, phát triển cơ thể, tăng cường sức khỏe, hình thành các phẩm chất nhân cách cơ bản,...”.  Mỗi hình thức hoạt động trên đều mang ý nghĩa giáo dục nhất định, tạo điều kiện cho HS được giao lưu, học hỏi, bộc lộ khả năng cá nhân, tích lũy thêm kinh nghiệm sống để phát triển các NL và phẩm chất, có như vậy HS mới hứng thú HT. (2) Đối với định hướng nghề nghiệp, GVCN giúp HS nhận biết được mình là Ngô Bảo Châu (trí thông minh logic/toán); là Trần Đăng Khoa (trí thông minh ngôn ngữ); hay là Mozart hoặc Mỹ Tâm (trí tuệ âm nhạc); là Messi hoặc Ronaldo,  Roger Federer. (trí thông minh vận động cơ thể) để từ đó định hướng, lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với thế mạnh nổi trội của mình; GVCN giúp HS tìm hiểu nghề nghiệp của xã hội, của địa phương; tổ chức cho HS trải nghiệm trong thực tiễn, lao động sản xuất;
Biện pháp 5: GVCN giúp HS biết cách tự học
       Tự học là một phần quan trọng của hoạt động HT, là nhân tố “nội lực” có tác dụng quyết định chất lượng HT và sự phát triển của người học. Nhưng chất lượng giáo dục chỉ đạt hiệu quả cao khi có sự cộng hưởng của yếu tố ngoại lực (hoạt động dạy của GV) và nội lực (hoạt động học và tự học của HS). GV giỏi là người biết dạy cho HS biết cách tự học, trò giỏi là người biết tự học một cách sáng tạo. Vì vậy hướng dẫn HS cách tự học là một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết đối với GVCN. Không thực hiện tốt nhiệm vụ này, có thể nói người GVCN chưa hoàn thành sứ mệnh cao cả của mình là biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo đối với HS.
       (1) Tạo niềm tin, húng thú tự học cho HS:  Có nhiều cách để tạo niềm tin cho HS khi tự học, như trong quá trình điều khiển HT, GV nêu câu hỏi và bài tập phù hợp với khả năng nhận thức của HS. Đối với HS yếu kém, GV có thể chia nhỏ câu hỏi, làm những bài tập cơ bản; đối với HS giỏi thì giao những câu hỏi, bài tập đòi hỏi phải tư duy phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, đặc biệt hóa,.. Hoạt động nhóm cũng là một biện pháp hữu hiệu để tạo niềm tin tự học cho HS, bởi vì, mỗi em có sở trường, sở đoản riêng, sẽ hỗ trợ, học tập lẫn nhau. Ngoài ra, việc khen thưởng, động viên đúng lúc, đúng mức độ của GV cũng tạo cho HS niềm vui, sự tự tin vào khả năng tự học của mình.
       Để tạo hứng thú cho HS khi tự học ở nhà, GV cần giao cho HS những bài tập phù hợp với khả năng HS và giới thiệu một số địa chỉ tìm đọc, những cuốn sách bổ ích. Kiến thức hay và PPDH tốt của GV là nhân tố cơ bản tạo nên sự hứng thú tự học của HS.
       (2) GVCN hướng dẫn HS biết cách xây dựng kế hoạch tự học. Cần giúp mỗi HS xây dựng kế hoạch tự học, bởi ban đầu HS có thể chưa biết cách thiết lập kế hoạch học cho mình. GV phải hướng dẫn HS biết cách lập thời gian biểu trong ngày (sáng, trưa, chiều, tối), theo tuần (thứ 2 - thứ 7, chủ nhật), tháng (học kì I, học kì II), thậm chí năm học. Kế hoạch càng cụ thể, khoa học bao nhiêu thì thực hiện càng thuận lợi bấy nhiêu. Muốn vậy, HS phải xác định rõ những môn học, nội dung kiến thức cần tự học, phân phối thời gian tự học giữa các môn, giữa học tập và nghỉ ngơi hợp lí. 
       (3) Việc thực hiện kế hoạch tự học là khâu quan trong nhất, quyết định sự thành bại của việc tự học của mỗi HS. Để thực hiện kế hoạch tự học tốt, GV cần từng bước rèn luyện cho HS tạo được những thói quen tự học tốt như: Tự học tự giác, tập trung tư tưởng khi tự học, tự tạo hứng thú khi tự học; học dứt điểm từng môn học; sử dụng quỹ thời gian hợp lí, tối ưu; có ý chí, quyết tâm vượt khó, khắc phục khó khăn do điều kiện, hoàn cảnh cá nhân, gia đình,... Ví dụ: Rèn luyện cho HS kỹ năng tự học với SGK, để làm việc tốt với SGK, đòi hỏi HS rèn luyện kỹ năng đọc SGK phát hiện kiến thức cơ bản qua kênh chữ, kênh hình; khai thác đồ dùng trực quan trong SGK; kỹ năng đọc SGK tìm ý để trả lời câu hỏi, làm bài tập; kỹ năng kết hợp đối chiếu SGK với vở ghi để hoàn thiện kiến thức;...
       Để hình thành và phát triển kỹ năng tự học với tài liệu tham khảo, GV cần cung cấp tài liệu cho HS, hoặc giới thiệu địa chỉ tin cậy để HS tiếp cận với tài liệu (thư viện, mạng Internet,...); nêu yêu cầu, nội dung, mức độ, hướng dẫn cách đọc và ghi chép tài liệu; trình bày kết quả tìm đọc của mình (bằng văn bản hoặc thuyết trình). Qua nhiều lần tập dượt như vậy, kỹ năng tự học từng bước được củng cố và hoàn thiện.
       (4) Việc tự kiểm tra, đánh giá thực hiện kế hoạch tự học của HS cũng rất quan trọng. Khi HS biết đối chiếu với kế hoạch đặt ra với kết quả thực tế đạt được, các em biết được mình thực hiện được bao nhiêu % kế hoạch? Phần nào chưa thực hiện tốt? Phần nào chưa hoàn thành? Nguyên nhân? Từ đó tìm ra cách khắc phục. Công việc này cần có sự hỗ trợ đắc lực của GV. Hướng dẫn HS biết tái hiện lai kiến thức được biểu hiện dưới dạng như lập sơ đồ tư duy, hệ thống bảng biểu, tái hiện bằng hình ảnh, từ ngữ điển hình,... 
Truy cập
Hôm nay:
2083
Hôm qua:
2141
Tuần này:
6392
Tháng này:
50069
Tất cả:
3063324