Đăng lúc: 20:47:25 27/09/2016 (GMT+7)

Vài nét về kết quả khảo sát năng lực CBQL các trường Mầm non, phổ thông, GDTX tỉnh Thanh Hóa

 
Thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo giai đoạn 2011-2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và Quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh về quy hoạch phát triển sự nghiệp giáo dục đến năm 2020 (Quyết định số 3456/QĐ-UBND ngày 20/10/2010); đồng thời thực hiện kết luận của Bí thư Tỉnh uỷ Thanh Hoá sau khi làm việc với Ngành giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hoá đã triển khai thực hiện nhiệm vụ khảo sát năng lực CBQL giáo dục trên địa bàn tỉnh nhằm phục vụ cho quy hoạch, bồi dưỡng đội ngũ CBQL giáo dục đến năm 2020 theo tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam.
Để đánh giá kết quả của việc thực hiện nhiệm vụ khảo sát năng lực CBQL giáo dục đồng thời đánh giá kết quả chất lượng đội ngũ CBQL các cấp làm cơ sở xây dựng quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng theo Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo giai đoạn 2011-2020 trên địa bàn tỉnh, Trung tâm GDTX tỉnh Thanh Hóa xin báo cáo đánh giá kết quả của công tác khảo sát năng lực CBQL trường Mầm non, phổ thông  như sau:
I. Đánh giá việc triển khai thực hiện nhiệm vụ khảo sát năng lực CBQL
1.1. Công tác tham mưu triển khai thực hiện nhiệm vụ
Ngày 13 tháng 3 năm 2013, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo đã có văn bản số 388/SGD&ĐT-GDCN về việc khảo sát chất lượng CBQL giáo dục. Theo đó, Sở GD&ĐT giao Trung tâm GDTX tỉnh chủ trì, phối hợp với các phòng, ban, cơ quan Sở, các Phòng GD&ĐT và các trường THPT trên địa bàn tỉnh tiến hành khảo sát chất lượng cán bộ quản lý giáo dục các cấp.
Mục đích của nhiệm vụ khảo sát là nhằm đánh giá năng lực vận dụng lý luận quản lý và thực hành quản lý giáo dục, quản lý nhà trường của đội ngũ CBQL trong toàn tỉnh, làm cơ sở cho công tác quy hoạch đội ngũ CBQL ngành GD&ĐT đến năm 2020; đồng thời giúp CBQL giáo dục các cấp ý thức được trách nhiệm của mình trong việc nâng cao kiến thức, kỹ năng quản lý, tự giác trong việc tự học, tự bồi dưỡng dưới nhiều hình thức khác nhau, mở rộng cơ hội giao lưu, học hỏi từ đó CBQL sẽ thực hiện tốt hơn chức trách, nhiệm vụ của mình tại các cơ sở giáo dục. 
Xác định rõ mục đích của nhiệm vụ khảo sát, Sở GD&ĐT đã chỉ đạo trực tiếp cho Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh tiến hành thiết kế biểu mẫu, phiếu điều tra khảo sát gửi các Phòng chức năng của cơ quan Sở (Giáo dục Mầm non, Giáo dục Tiểu học, Giáo dục Trung học, Giáo dục chuyên nghiệp, Giáo dục thường xuyên) để tham khảo ý kiến, điều chỉnh cho phù hợp và sát với yêu cầu của công tác khảo sát. Đồng thời, Sở GD&ĐT giao cho Trung tâm GDTX tỉnh chủ trì phối hợp với 27  Phòng Giáo dục và Đào tạo các huyện thị  xây dựng chương trình, nội dung làm việc cho từng huyện, theo từng thời điểm, từng thời gian nhằm thu thập dữ liệu về năng lực thực tế của cán bộ QLGD các cấp nhằm bổ sung, điều chỉnh chương trình, phương thức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục.
Đối tượng khảo sát: 100% CBQL các trường Mầm non, Tiểu học, THCS, THPT, Trung tâm GDTX trong toàn tỉnh.
Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo yêu cầu Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo huyện, thị xã, thành phố, Hiệu trưởng trường THPT và Giám đốc các trung tâm GDTX có trách nhiệm phối hợp với Trung tâm GDTX tỉnh và các phòng, ban của Sở xây dựng kế hoạch và chương trình làm việc, tổ chức tốt việc khảo sát để nắm rõ chất lượng thực của đội ngũ cán bộ QLGD nhằm xây dựng quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo giai đoạn 2011-2020 và quy hoạch phát triển sự nghiệp giáo dục Tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020.
1.2. Quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ khảo sát
- Sở GD&ĐT (trực tiếp là Phòng Tổ chức - Cán bộ, Phòng GDCN) đã chỉ đạo Trung tâm GDTX Tỉnh Thanh Hóa thiết kế các biểu mẫu, phiếu điều tra.Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của người CBQL các cấp học, bậc học, các nội dung quản lý nhà trường, các biểu mẫu, phiếu điều tra được thiết kế, có ý kiến góp ý của các Phòng chức năng cơ quan Sở. Trung tâm GDTX tỉnh chịu trách nhiệm triển khai khảo sát, trực tiếp trao đổi từng nội dung đến CBQL giáo dục từng huyện, thị trong toàn tỉnh. 
- Trung tâm GDTX Tỉnh Thanh Hóa chịu trách nhiệm phối hợp với Phòng GD&ĐT các huyện thị trong tỉnh lập kế hoạch, chương trình khảo sát phù hợp với điều kiện cụ thể của từng vùng miền. Phòng GD&ĐT chịu trách nhiệm báo cáo UBND huyện, thị, TP về nhiệm vụ khảo sát đồng thời phối hợp với Trung tâm GDTX Tỉnh thông báo kế hoạch khảo sát tới CBQL các trường MN, phổ thông và TTGDTX, bố trí sắp xếp thời gian, địa điểm, các phương tiện phục vụ cho buổi khảo sát, cùng tham gia tổng hợp kết quả khảo sát ở một số nội dung để đoàn công tác thông báo kết quả chung của toàn huyện ngay sau buổi khảo sát.
- Thành lập các Đoàn khảo sát gồm các đồng chí lãnh đạo Sở, các Phòng chức năng của Sở, lãnh đạo Trung tâm GDTX Tỉnh Thanh Hóa, các đồng chí giáo viên đang trực tiếp thực hiện nhiệm vụ Bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý giáo dục tại Trung tâm.
Tham dự các buổi khảo sát có các đồng chí lãnh đạo và chuyên viên Phòng GD&ĐT các huyện thị, thành phố. Một số huyện thị có các đồng chí Phó Chủ tịch UBND huyện chỉ đạo và theo dõi quá trình làm việc của Đoàn. Sự đồng tình, ủng hộ của lãnh đạo các huyện, thị, thành phố, các Phòng GD&ĐT và đặc biệt là đội ngũ CBQL các cấp học Mầm non, phổ thông, TTGDTX trên địa bàn đã giúp Đoàn công tác hoàn thành nhiệm vụ theo yêu cầu của Giám đốc Sở.   
Với thời gian tiến hành khảo sát (mỗi huyện 1 buổi/27 huyện thị, TP), từ tháng 4 năm 2013, đến tháng 6 năm 2015, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Sở GD&ĐT, toàn bộ kế hoạch khảo sát đã được thực hiện với sự phối hợp đồng bộ và trách nhiệm của Trung tâm GDTX Tỉnh với các Phòng GD&ĐT huyện, thị, thành phố trong tỉnh.     
1.3. Nội dung và phương pháp thực hiện khảo sát.
Với yêu cầu nhằm hướng tới giúp người CBQL thực hiện đúng các nguyên tắc, các quy định của các cấp quản lý, đồng thời vận dụng linh hoạt, chủ động, sáng tạo, nâng cao ý thức trách nhiệm của người CBQL nhà trường trong quá trình triển khai thực hiện các nhiệm vụ, Sở GD&ĐT đã chỉ đạo Trung tâm GDTX tỉnh thiết kế các mẫu phiếu với các nội dung cơ bản theo hướng đảm bảo tính mở, cập nhật, thể hiện rõ định hướng vận dụng vào thực tiễn quản lý ở cơ sở, lưu ý thu thập được dữ liệu về khả năng  xác định vấn đề và định hướng thực hiện các nhiệm vụ quản lý. Các nội dung khảo sát cần đề cập chủ yếu đến các nội dung mang tính hành dụng, giảm tối đa các nội dung mang tính hàn lâm, học thuật. Vì vậy, Trung tâm đã thiết kế các mẫu phiếu khảo sát cho 27/27 huyện, thị, thành phố với các nội dung cơ bản sau:
 - Các khối kiến thức về lý luận và nghiệp vụ quản lý  
+ Khảo sát việc nhận thức về đường lối giáo dục của Đảng, các nguyên tắc, các quy định trong công tác quản lý giáo dục (chức năng quản lý nhà nước về giáo dục của Sở, Phòng, địa phương…)  
+ Khảo sát nhận thức về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của người CBQL nhà trường trong từng mặt công tác (quản lý hành chính, quản lý chuyên môn, quản lý tài chính, quản lý nhân sự…)
+ Khảo sát nhận thức và khả năng vận dụng lý luận về nghiệp vụ quản lý theo chức năng và nhiệm vụ của người CBQL nhà trường (công tác kế hoạch, công tác thanh tra, kiểm tra, quyết định, quản lý văn bản, quản lý hoạt động dạy và học, triển khai đúc rút SKKN trong nhà trường...).
- Khảo sát nhận thức và triển khai thực hiện những yêu cầu và nội dung mới trong hoạt động quản lý theo chủ trương của các cấp quản lý, các địa phương (công tác tuyển dụng, điều động và bố trí nhân sự trong giáo dục, công tác kiểm định và đánh giá chất lượng giáo dục, vấn đề tự chủ, tự chịu trách nhiệm, vấn đề tài chính trong giáo dục…)
- Khảo sát tầm nhìn, khả năng tham mưu, tính chủ động, linh hoạt trong hoạt động quản lý (xây dựng chiến lược phát triển nhà trường, xây dựng văn hóa nhà trường, công tác xã hội hóa giáo dục, vấn đề xây dựng trường chuẩn quốc gia…)
Các nội dung trên được thể hiện qua 2 mẫu phiếu. Mẫu phiếu số 1 được Đoàn công tác trao đổi về nội dung từng vấn đề, tổng hợp kết quả trả lời đúng (hoặc chưa đúng), thông báo ngay sau buổi khảo sát.  Đối với mẫu phiếu số 2, Đoàn công tác trao đổi định hướng trả lời để CBQL tự đánh giá, đối chiếu với kết quả trả lời của bản thân. Kết quả trả lời của mẫu phiếu số 2 được phân tích, tổng hợp trên các phương diện (có tính tỷ lệ % ở một số nội dung). 
Đoàn khảo sát cũng đã dành thời gian trao đổi với CBQL những nội dung có tính thời sự, cập nhật về tình hình kinh tế, chính trị, giáo dục của tỉnh, những quan điểm nhìn nhận về giáo dục, vai trò của giáo dục trong giai đoạn hiện nay. Đặc biệt, Đoàn tập trung trao đổi với đội ngũ CBQL về Kế hoạch hành động của ngành giáo dục triển khai Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29/NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 của Ban chấp BCH TƯ Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Trong đó nhấn mạnh những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu được đề ra trong Kế hoạch hành động của ngành.   
Những nội dung và phương pháp khảo sát nêu trên đã đánh giá được nhận thức và năng lực thực hành trong quản lý nhà trường của từng CBQL, đồng thời cũng giúp cán bộ quản lý giáo dục các cấp nâng cao nhận thức và ý thức được trách nhiệm trong quá trình công tác, thực hiện đúng các nguyên tắc trong quản lý hành chính, trong phân cấp quản lý, trong việc thực hiện các mối quan hệ giữa cấp trên với cấp dưới, giữa quản lý ngành với quản lý theo lãnh thổ, trong công tác tham mưu, phối hợp và kỹ năng, tác nghiệp quản lý đáp ứng với yêu cầu của giáo dục trong giai đoạn hiện nay.
II. Đánh giá năng lực quản lý nhà trường của đội ngũ CBQL các cấp (trên kết quả 2 mẫu phiếu)
Tổng số CBQL tham gia khảo sát: 4778. Trong đó: 
CBQL Nữ: 2783 đ/c; Nam 1995 đ/c; Tuổi đời trung bình: 40,2; 
Trong đó khu vực 11 huyện Miền núi: 1577 CBQL.
Số CBQL khi tham gia khảo sát có tuổi nghề ít nhất (mới được bổ nhiệm từ 1 đến 3 năm) là 207 đ/c. Số CBQL nữ chiếm tỷ lệ cao ở bậc học Mầm non. 
Có 2598 CBQL tham gia khảo sát đạt điểm 5 trở lên (chiếm 54,4%)
2.1. Đánh giá ý thức tham gia đợt khảo sát của đội ngũ CBQL 
Xác định rõ mục đích của nhiệm vụ khảo sát tại văn bản 388/SGD&ĐT-GDCN  ngày 13 tháng 3 năm 2013 của Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo, phần lớn CBQL đồng tình, ủng hộ, ý thức trách nhiệm cao thực hiện đúng yêu cầu và kế hoạch của Đoàn công tác.
 Việc tiến hành khảo sát qua 2 mẫu phiếu đều được CBQL giáo dục các cấp thực hiện đúng trình tự, thời gian. Nội dung yêu cầu trong biểu mẫu đều được CBQL nghiên cứu kỹ qua tài liệu, đối chiếu, so sánh với những nhiệm vụ, tác nghiệp trong hoạt động quản lý hàng ngày tại cơ sở để xác định và lựa chọn trả lời.      
Như vậy, có thể khẳng định, phần lớn CBQL tham gia khảo sát có ý thức trách nhiệm trong việc tìm hiểu về chủ trương, đường lối, Nghị quyết của Đảng, Pháp luật của Nhà nước, của ngành giáo dục và Đào tạo; tâm huyết với nghề, có ý thức nghiên cứu để tuân thủ các nguyên tắc trong quản lý nhà trường nhằm phát huy vai trò của người lãnh đạo, quản lý,  nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà trường, nâng cao chất lượng của cơ sở giáo dục nơi mình công tác.    
2.2. Đánh giá việc nhận thức các nguyên tắc, các quy định, các nội dung trong công tác quản lý nhà trường
     Ưu điểm:
Hầu hết CBQL nắm vững quan điểm chỉ đạo của Đảng trong giáo dục, về vị trí, vai trò của giáo dục trong việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong giai đoạn hiện nay. 
Phần lớn CBQL nhận thức được tầm quan trọng của các nguyên tắc, quy định trong quản lý nhà nước về giáo dục nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý. Chẳng hạn, nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý giáo dục được phần lớn CBQL lựa chọn (81,6% tỷ lệ trả lời ở Mẫu 2). Đây  là một trong những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động quản lý nhà trường. Điều này thể hiện nguyên tắc này được CBQL các cấp nhận thức sâu sắc và vận dụng trong hoạt động quản lý nhằm phát huy tinh thần dân chủ, tính chủ động sáng tạo của cấp dưới, của đội ngũ CBGV, đồng thời cũng đảm bảo sự nhận thức đầy đủ về vai trò, trách nhiệm của người CBQL.   
Các yếu tố tạo nên chất lượng giáo dục được CBQL nhận thức đúng đắn. Có 58,3% CBQL được hỏi đã xác định đúng đắn vai trò quyết định của đội ngũ CBGV, CBQL nhà trường trong việc tạo nên chất lượng giáo dục theo quan điểm của Đảng.
Một số CBQL đã thể hiện ý thức trách nhiệm cao trong công tác, nghiên cứu kỹ các quy định, các nguyên tắc trong quản lý, nghiên cứu và tổ chức thực hiện Điều lệ nhà trường, các yêu cầu trong tác nghiệp một cách nghiêm túc. (89/4778 bài đạt điểm 9; 19/4778 bài đạt điểm 10)  
Các vấn đề lý luận về công tác kế hoạch, công tác chỉ đạo hoạt động chuyên môn, công tác kiểm tra nội bộ được CBQL lưu ý và xác định bởi đây là những chức năng chủ yếu của người quản lý nói chung và người CBQL nhà trường nói riêng. 
Như vậy, đội ngũ CBQL giáo dục tỉnh nhà bước đầu đã đáp ứng được yêu cầu cơ bản của công tác quản lý nhà trường. 
     Hạn chế:
Nhiều CBQL hiểu chưa đúng quy định về trách nhiệm quản lý Nhà nước về giáo dục của các cơ quan quản lý các cấp, cơ quan quản lý Nhà nước giáo dục ở địa phương nơi trường đóng (27% CBQL được hỏi trả lời sai nội dung này).
Một số nguyên tắc trong quản lý giáo dục chưa được phần lớn CBQL quan tâm tìm hiểu (nguyên tắc Đảng lãnh đạo; nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ). Thực tiễn quản lý cho thấy, việc thực hiện những nguyên tắc này giúp người CBQL lãnh đạo, quản lý nhà trường đi đúng đường lối, đúng mục tiêu, tạo sự thống nhất trong quản lý và khai thác tốt nhất các điều kiện, môi trường giáo dục thúc đẩy nhà trường phát triển (Chỉ có 15% CBQL được hỏi tại mẫu phiếu số 2 đề cập đến 2 nguyên tắc này) 
Việc xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn của người CBQL nhà trường ở nhiều CBQL chưa đúng (quyền hạn trong thanh tra, kiểm tra, trong đánh giá, kiểm định chất lượng giáo dục….)
Việc nghiên cứu Điều lệ nhà trường để người CBQL thực thi nhiệm vụ đúng quy định chưa được phần lớn CBQL quan tâm. (trả lời đúng về câu hỏi CBTV TB được sắp xếp ở tổ nào theo quy định của Điều lệ trường)
Một số kỹ năng và nghiệp vụ quản lý còn ở mức độ thấp. Số CBQL trả lời chưa đúng một số nội dung, nghiệp vụ quản lý còn chiếm tỷ lệ khá cao:
Thẩm quyền ký dưới các văn bản hành chính (39,4%); 
Thẩm quyền ban hành quyết định quản lý (65,02%)
Các lực lượng tham gia xây dựng kế hoạch (48,46%),
Quy trình lập kế hoạch tác nghiệp (45,05%)
Công cụ quản lý Tài chính trong nhà trường (75,25%)
Xác định những quan điểm chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường (71,41%) 
Tổ chức thực hiện điều lệ nhà trường (76,34%)
2.3. Đánh giá khả năng tham mưu, vận dụng các kiến thức quản lý vào thực tiễn công tác.   
     Ưu điểm:
Đa số CBQL đều nhận thức rõ vai trò của mình, của người CBQL nhà trường việc đảm bảo chất lượng giáo dục, trong công tác tham mưu, phối hợp nhằm xây dựng và phát triển nhà trường. 
Một số CBQL thể hiện rõ tư duy nhận diện và phân tích vấn đề để tìm cách giải quyết phù hợp với thực tiễn luôn thay đổi. Nhiều CBQL xác định rõ rằng  trong giai đoạn hiện nay, người CBQL vừa phải tìm hướng đi đúng đắn cho sự phát triển nhà trường đồng thời cũng là người tổ chức thực hiện các nhiệm vụ theo định hướng đã lựa chọn (55,6 % - Mẫu 2) 
Tầm nhìn của người CBQL lãnh đạo được thể hiện rõ trong bản kế hoạch chiến lược. 79,1 %  CBQL được hỏi (Mẫu 2) đã chủ trì hoặc tham gia xây dựng kế hoạch chiến lược. 
Công tác xã hội hóa giáo dục được các nhà quản lý lưu tâm đặc biệt là trong việc huy động các nguồn lực vật chất để xây dựng nhà trường.
Vấn đề xây dựng văn hóa nhà trường cũng được CBQL quan tâm, lưu ý.
Đa số CBQL đã nhận thức đúng đắn về giáo dục, về xã hội hóa giáo dục, về xây dựng trường chuẩn quốc gia).
Bên cạnh đó, những nội dung khảo sát đề cập đến vấn đề cơ chế,chính sách trong về quản lý nhân sự, quản lý tài chính, quản lý chuyên môn, công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia… được hầu hết CBQL trả lời với ý thức trách nhiệm cao, thể hiện rõ sự tâm huyết với sự nghiệp giáo dục (Mẫu 2: 89,6%).  
Những băn khoăn, trăn trở, khó khăn,vướng mắc trong xác định và nhận diện vấn đề cũng như trong quá trình thực hiện giúp người CBQL chủ động hơn, sáng tạo hơn trong quá trình triển khai thực hiện. 
     Hạn chế:
Nhiều CBQL chưa xác định rõ vai trò của người CBQL, người lãnh đạo nhà trường, chưa xác định được sứ mạng và tầm nhìn chiến lược nhà trường, chưa thể hiện rõ tính chủ động, sáng tạo trong công tác quản lý nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhà trường trong điều kiện có nhiều thay đổi.
Số CBQL quan tâm đến việc tham mưu với các cấp chính quyền điạ phương để có những  chủ trương phát triển giáo dục còn rất ít, chưa coi đây là một trong những thành tố trong công tác xã hội hóa giáo dục, một điều kiện giúp CBQL nhà trường thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa giáo dục.  
Các nguyên tắc trong quản lý nhà trường trong đó nguyên tắc tập trung dân chủ đã được quan tâm song ở một số khâu, một số chức năng quản lý chưa được thể hiện rõ  hoặc chưa được thực hiện triệt để (ví như trong công tác xây dựng kế hoạch chiến lược, một số đồng chí PHT  dường như chưa quan tâm hoặc chưa được tham gia bàn bạc và xây dựng)
Việc vận dụng những vấn đề lý luận vào thực tiễn chưa thực sự linh hoạt, chưa thể hiện được sự chủ động, sáng tạo, số ít CBQL còn trông chờ vào sự chỉ đạo của cấp trên.   
* Một số nguyên nhân của những hạn chế trong năng lực của CBQL
- Do đặc thù của ngành học, CBQL nhà trường đều được lựa chọn từ những giáo viên giỏi. Từ nhiều năm qua, CBQL được lựa chọn, bổ nhiệm chưa thực sự gắn với yêu cầu về năng lực và phẩm chất của người làm quản lý. Bởi vì, những nhà quản lý giỏi đương nhiên là những giáo viên giỏi nhưng là một giáo viên giỏi chưa hẳn là những nhà quản lý giỏi.
- Bên cạnh đó, nhiều giáo viên giỏi có tâm huyết với nghề, có ý chí, mục đích, động cơ phấn đấu không định hướng được quá trình rèn luyện của mình để trở thành nhà quản lý. Đây là một khó khăn không nhỏ cho các cấp quản lý trong việc lựa chọn những CBQL có phẩm chất và năng lực đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý nhà trường đồng thời cũng là khó khăn trong việc tạo nguồn CBQL. (Những năm gần đây, Bộ GD&ĐT mới ban hành Chuẩn Hiệu trưởng các cấp học, bậc học. Năm 2012 mới có tiêu chí hướng dẫn đánh giá PHT). 
- Việc tổ chức đánh giá, xếp loại Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng trong những năm gần đây chưa thực sự đi vào nề nếp, mang tính chủ quan. Nhiều CBGV còn e dè, nể nang trong việc đánh giá, xếp loại cấp trên của mình. Mặt khác, các cấp quản lý chưa thực sự quan tâm đến kết quả đánh giá xếp loại Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng hàng  năm theo quy định.
 - Nhiều CBQL chưa qua các lớp đào tạo Bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý. Việc quản lý nhà trường chủ yếu được làm từ kinh nghiệm.
- Số CBQL tuổi cao tính chủ động, linh hoạt, sáng tạo, khả năng nắm bắt kịp thời cái mới trong điều kiện có nhiều thay đổi hiện nay bị hạn chế. Một số CBQL chưa quan tâm và coi trọng đúng mức việc học tập, bồi dưỡng theo quy định cũng như công tác tự học, tự  bồi dưỡng để nâng cao nghiệp vụ cho bản thân, tự bằng lòng với những kết quả đạt được, không có ý chí và khát vọng phấn đấu vươn lên để trở thành nhà quản lý giỏi, nhà quản lý chuyên nghiệp – một yêu cầu khách quan trong quản lý nói chung và quản lý nhà trường nói riêng hiện nay .    
III. Một số ý kiến đề xuất và khuyến nghị.
Trên cơ sở những ưu điểm và hạn chế về năng lực quản lý, lãnh đạo của đội ngũ CBQL các cấp trên địa bàn toàn tỉnh được đánh giá qua đợt khảo sát, Trung tâm GDTX tỉnh có những ý kiến đề xuất và khuyến nghị như sau: 
1. Lãnh đạo UBND tỉnh, lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo cũng như các Sở, ban ngành trong tỉnh cần kiên trì mục tiêu “Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trước hết là chất lượng của đội ngũ cán bộ quản lí trường học” đúng theo tinh thần Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa IX; về việc “xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục”;  đặc biệt trong giai đoạn hiện nay nhằm thực hiện Nghị quyết số 29/NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 của Ban chấp BCH TƯ Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
2. Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, Ban Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo trong việc quản lí đội ngũ CBQL giáo dục trong phạm vi toàn tỉnh.
3. Các cấp  lãnh đạo, chính quyền địa phương, Sở GD&ĐT cần chỉ đạo các cơ sở giáo dục tổ chức đánh giá một cách nghiêm túc Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng hàng năm theo chuẩn Hiệu trưởng do Bộ giáo dục và đào tạo ban hành (Thông tư số 17/2011/TT-BGD&ĐT ngày 14/04/2011 quy định chuẩn Hiệu trưởng trường Mầm non; Thông tư số 14/2011/TT-BGD&ĐT ngày 08/04/2011 quy định  chuẩn Hiệu trưởng trường Tiểu học; Thông tư số 29/2011/TT-BGD&ĐT ngày 22/10/2009 quy định  chuẩn Hiệu trưởng trường trung học;
4. Sử dụng kết quả đánh giá Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng hàng năm về phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp; năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm; năng lực quản lý nhà trường; năng lực tổ chức phối hợp với gia đình học sinh, cộng đồng và xã hội làm cơ sở cho công tác bổ nhiệm lại, sàng lọc, bổ sung đội ngũ CBQL giáo dục đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ hiện tại; bố trí, sắp xếp và giao nhiệm vụ phù hợp với năng lực, sở trường và kinh nghiệm công tác của từng CBQL.
5. Xây dựng các tiêu chí cụ thể bổ nhiệm CBQL giáo dục để tham muu cho UBND tỉnh tiến hành quy trình bổ nhiệm CBQL giáo dục các cấp theo chuẩn quy định, đảm bảo quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lí cho từng giai đoạn phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay.
6. Thống nhất quản lý, điều hành việc thực hiện nhiệm vụ Bồi dưỡng CBQL của các cơ sở thực hiện nhiệm vụ bồi dưỡng trong tỉnh, quan tâm đến các cơ sở giáo dục có bề dày kinh nghiệm tổ chức các hoạt động bồi dưỡng và đủ sức gánh vác, hoàn thành tốt nhiệm vụ bồi dưỡng CBQL giáo dục nhằm nâng cao năng lực của người CBQL nhà trường.
7. Có chế độ ưu đãi và chính sách thu hút đối với những CBQL giỏi công tác ở những trường thuộc vùng khó khăn, những trường yếu kém, khuyến khích động viên để thúc đẩy việc quản lý tốt các nhà trường góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong toàn tỉnh.
8. Xây dựng nội dung chương trình và tổ chức tập huấn một số chuyên đề bồi dưỡng thường xuyên hàng năm cho toàn bộ CBQL giáo dục các cấp trong đó cần cập nhật tình hình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, của đất nước, của từng địa phương, cập nhật những văn bản, những quy định mới nhất về giáo dục và đào tạo, ứng dụng CNTT trong quản lý… (mỗi năm 30 tiết). Tổ chức cho CBQL các nhà trường được tham quan, học tập kinh nghiệm về công tác quản lý giáo dục trong và ngoài tỉnh, nâng tầm nhìn cho đội ngũ CBQL giáo dục trong bối cảnh hội nhập và phát triển.
Công tác khảo sát năng lực CBQL giáo dục do Sở GD&ĐT chỉ đạo Trung tâm GDTX tỉnh phối hợp với các phòng chức năng của Sở và Phòng GD&ĐT các huyện, thị, thành phố trong tỉnh tổ chức thực hiện đã cho chúng ta thấy một bức tranh tổng thể về chất lượng đội ngũ CBQL giáo dục tỉnh nhà. Kết quả thu được từ công tác khảo sát là cơ sở cho công tác quy hoạch, bồi dưỡng đội ngũ CBQL giáo dục đến năm 2020 theo tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam.
Cũng qua công tác này, CBQL các nhà trường trong tỉnh sẽ tự nhìn nhận đánh giá lại năng lực của chính mình, tự học, tự bồi dưỡng, tự phấn đấu vươn lên để tiếp tục khẳng định vai trò, vị trí của người CBQL trong việc nâng cao chất lượng giáo dục trong mỗi nhà trường, góp phần vào sự thành công của giáo dục Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay.
   
TRUNG TÂM GDTX TỈNH THANH HÓA
Hôm nay:
846
Hôm qua:
899
Tuần này:
3156
Tháng này:
14006
Tất cả:
769703